This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Thủ phạm gây ung thư cổ tử cung

Ở phụ nữ, virút có trên cửa mình, trong âm đạo, cổ tử cung và hậu môn. Ở đàn ông, virút là cư dân quanh dương vật, bìu, trên hoặc trong hậu môn. Virút lây nhiễm khi làm tình ngả âm đạo, hay ngả hậu môn. Trớ trêu, làm tình miệng có thể đem virút miệt dưới lên họng miệng.

Thủ phạm gây ung thư cổ tử cung

Người giăng câu nhẫn nại

Đằng đẳng 10 năm giăng câu, năm 1983, Harald zur Hausen giật được virút HPV 16 gây ung thư cổ tử cung. Năm sau ông tóm được virút HPV 18.

Năm 1974, Harald zur Hausen nghĩ là ung thư cổ tử cung do một týp virút HPV (Human Papilloma virus). Ông tạo một đoạn xoắn đơn DNA làm “mồi” câu virút từ các tế bào ung thư. Cá lạ đã đớp mồi. DNA virút bắt cặp với đoạn DNA mồi. Tái tổ hợp DNA là kỹ thuật dùng một trình tự để tìm một trình tự “đẹp đôi”.

Zur Hausen đã tìm thấy 70% tất cả ung thư cổ tử cung chứa HPV 16 & 18. Về sau người ta được biết thêm các týp HPV 45, 31, 33, 52, 58, 35 cũng gây ung thư cổ tử cung. Có hơn 100 týp HPV, khoảng 40 týp gây nhiễm sinh dục, trong số này có 15 týp nguy cơ cao gây 99,7% ung thư cổ tử cung.

HPV nguy cơ cao gây ra các loại ung thư nào

Được biết thêm HPV nguy cơ cao còn gây ung thư âm đạo, âm hộ ở phụ nữ và các ung thư dương vật, hậu môn, miệng họng ở đàn ông... Nhóm HPV nguy cơ cao có thể gây khoảng 5% tất cả ung thư của loài người.

Phần lớn nhiễm HPV nguy cơ cao xảy đến không có triệu chứng, rồi biến mất trong 1 - 2 năm. Tuy nhiên, vài trường hợp nhiễm dai dẳng trong nhiều năm, dẫn đến sự thay đổi tế bào, không điều trị có thể dẫn đến ung thư.

Hiện nay ung thư cổ tử cung là loại ung thư thường gặp ở phụ nữ trên toàn thế giới, chỉ đứng sau ung thư vú. Khoảng 500.000 phụ nữ mới mắc bệnh hàng năm với suất độ cao gấp 10 lần ở các nước nghèo và phỏng định có 250.000 người chết. Khám phá của Harald zur Hausen đã đem lại niềm hy vọng mới cho việc phòng bệnh.

Phần lớn HPV 16 là thủ phạm gây khoảng 95% các ung thư hậu môn - khoảng 70% các ung thư miệng họng (khẩu cái mềm đáy lưỡi và amiđan), với các loại ung thư hiếm HPV16 thủ phạm của các ung thư âm đạo 65%, các ung thư âm hộ 50% và các ung thư dương vật 35%.

ung thư cổ tử cung

Theo CDC Hoa Kỳ. Từ 2008 - 2012, khoảng 38.793 số người mắc các ung thư liên hệ HPV hàng năm: 23.000 phụ nữ và 15.793 đàn ông. Ung thư cổ tử cung thường gặp nhất ở phụ nữ. Khoảng 70% ung thư âm đạo, âm hộ, hơn 60% ung thư dương vật. Các ung thư họng miệng (đáy lưỡi và amiđan), khoảng 70% có liên hệ HPV, thường gặp nhất ở đàn ông.

Theo Hội Ung thư Canada (tháng 10, 2016). Hàng năm có khoảng 4.400 ca ung thư mới liên hệ HPV và 1.200 chết. Khoảng 1/3 số ca là ung thư cổ tử cung của phụ nữ, 1/3 số ca là ung thư họng miệng ở nam giới.

HPV làm thế nào gây ung thư?

Thật thú vị đã biết được cách con virút gây bệnh. Hai gen E6, E7 sản xuất hai protêin E6 E7 đến gắn vào và khóa tay hai protêin p53 và Rb của tế bào. Sự sinh sôi của tế bào không còn được kiềm chế nữa. Các tế bào nhiễm tiếp tục sinh sôi tăng trưởng tạo ra các xáo trộn gen (gọi là đột biến) kích thích sự tăng trưởng tế bào bất thường nữa. Virút lèo lái tế bào cổ tử cung hoặc các tế bào biểu mô khác sinh sôi vô tổ chức dẫn đến các tế bào tiền ung thư, rồi thành một khối ung thư. Đúng là gen tặc.

Virút cần khoảng 10 - 30 năm từ khi nhiễm lần đầu đến khi các tế bào bất thường trổ ra.

ung thư cổ tử cung

Con tạo trêu ngươi

Tưởng là HPV chỉ tung hoành ở vùng sinh dục, đặc biệt ở cổ tử cung, ai ngờ HPV 16 vốn cư trú ở bộ phận sinh dục, miệt dưới mà nhảy tót lên trên, vào trong họng quậy phá do làm tình miệng. Người đồng tính hoặc lưỡng tính luyến ái kiểu lạ tạo thời cơ cho HPV tung hoành ở hậu môn.

Làm tình bằng miệng

Chuyện của Michael. Đầu năm 2011, nhiều báo đưa tin Michael Douglas tài tử lừng danh 66 tuổi 2 giải Oscar tuyên bố đã khỏi bệnh ung thư họng miệng mắc từ tháng 8.2010 sau thời gian xạ trị tám tuần và hóa trị. Trả lời báo chí, Michael thả bom tấn cho là bệnh của mình không phải do rượu và thuốc lá, mà do virút HPV - qua cách làm tình miệng.

Tổ chức Y tế Thế giới từ năm 2007 nhận định HPV là nguyên nhân của ung thư họng miệng (khẩu cái mềm, đáy lưỡi và amiđan). Có sự gia tăng rõ ràng liên hệ HPV trong khoảng 20 năm qua, ở đàn ông gấp 4 lần phụ nữ. Đây là hậu quả sự nhiễm HPV do quan hệ tình dục kiểu làm tình miệng. Virút tấn công các người khoảng tuổi bốn, năm mươi, phần lớn là nam giới, không thuốc không rượu, tăng theo số bạn tình.

Ái ân kiểu lạ. Trên thế giới phỏng định có 27.000 ca ung thư hậu môn mới mỗi năm. Khoảng 88% liên hệ HPV: HPV 16 (73% số ca). HPV 18 khoảng 5% (số liệu 20.3.2015). Số liệu Mỹ cho thấy, hàng năm những người đàn ông đồng tính mắc khoảng 35 ca ung thư hậu môn trên 100.000 người. Đàn ông nhiễm HPV do quan hệ tình dục hậu môn. Giới mày râu âu yếm cận kề tăng 17 lần nguy cơ ung thư hậu môn so với ái ân khác giống. Khác nào vẽ đường hươu chạy.

HIV - HPV liên thủ, giậu đổ bìm leo. Hệ miễn dịch của bệnh nhân bị suy yếu vì HIV AIDS thì virút HPV mạnh lên, dễ dàng gây ung thư. Đặc biệt, ung thư cổ tử cung xuất hiện ở phụ nữ mang HIV gấp năm đến mười lần ở phụ nữ không nhiễm HIV. Hầu hết đàn ông đồng tính nhiễm HIV đều có HPV trong hậu môn. Ung thư hậu môn là một trong những ung thư thường gặp nhất ở đàn ông đồng tính.

Có đối sách

Vắcxin ngừa HPV. Đã có hai vắcxin ngừa nhiễm HPV 16 - 18: Gardasil và Cervarix. Tuổi quy định tiêm vắcxin tại các nước u Mỹ là 9 đến 26 tuổi, chưa có quan hệ tình dục. Các vắcxin này ngừa nhiễm HPV, nhưng không hiệu quả để chống lại nhiễm HPV hay các bệnh do HPV. Tại Việt Nam 2 loại vắcxin này đã được lưu hành. Các vắcxin hiện nay chỉ ngừa được 70% các ung thư cổ tử cung do HPV 16 - 18 gây ra, vậy còn 30% lọt lưới. Nên nhớ dẫu đã tiêm vắcxin, phụ nữ đã có quan hệ tình dục nên khám phụ khoa định kỳ và làm xét nghiệm PAP. Mới đây FDA Hoa Kỳ chuẩn nhận thêm Gardasil 9.

FDA Hoa Kỳ mới cho phép dùng Gardasil cho giới nam từ 9 - 26, đặc biệt ngừa bướu nhú. Cần nhiều nghiên cứu nữa để xem Gardasil và Cervarix có thể ngừa hiệu quả ung thư dương vật, hậu môn và họng miệng liên hệ HPV.

Biết ơn sâu sắc

Giải Nobel Y học 2008 dành cho những người “săn virút”. Bà Franoise Barré-Sinoussi và ông Luc Montagnier, chia nửa giải thưởng vì đã chỉ đích danh sát thủ gây ra HIV-AIDS vào năm 1983. Phân nửa giải dành cho Harald zur Hausen vì đã tóm được HPV gây ung thư cổ tử cung. Nhờ biết rõ HPV 16 & 18 mà người ta đã sản xuất thành công hai loại vắcxin (Gardasil và Cervarix) ngừa ung thư cổ tử cung.

ung thư cổ tử cung

Giải thưởng nhà sáng tạo châu u năm 2015 được trao cho 2 nhà nghiên cứu thành công vắcxin ngừa HPV. Các vắcxin Gardasil và Cervarix là kết quả 25 nghiên cứu của giáo sư Ian Frager và tiến sĩ Jian Zhou. Tiến sĩ Zhou, chuyên gia miễn dịch học đã mở đường nghiên cứu vắcxin bằng cách gây dòng các protêin ngoài mặt của virút. Thương thay ông chết trẻ vào tuổi 42 (năm 1999) trước khi vắcxin được đưa ra thị trường. GS. Frager tiếp tục công cuộc nghiên cứu vắcxin.

Việc chế tạo vắcxin thật tài tình. Cắt lấy gen L1 của virút đem gắn vào DNA trong vốn gen của tế bào nấm men hoặc côn trùng. Tế bào này sản xuất ra một cái bọc gọi là VLP (Virus like particles) giống hình HPV mà rỗng ruột, không chứa phần “quậy” của virút nên không thể sinh sôi và không gây nhiễm. VLP khêu gợi cho bộ máy bảo vệ cơ thể tập dượt để chống HPV thật. Đó là vắcxin ngừa HPV.

GS.BS. NGUYỄN CHẤN HÙNG

Ung thư âm hộ

Ung thư âm hộ là ung thư xảy ra trên mặt ngoài của bộ phận sinh dục nữ. m hộ bao gồm:

- Môi lớn và môi bé.

- m vật (mô nhạy cảm giữa các môi).

- Lỗ mở âm đạo và các tuyến của nó.

- Gò mu (vùng mô phía trước xương mu và có lông phủ sau khi dậy thì).

- Tầng sinh môn (vùng giữa âm hộ và lỗ hậu môn).

Ung thư âm hộ thường phát triển chậm trong nhiều năm. Các tế bào bất thường có thể phát triển ở da âm hộ trong nhiều năm. Các tổn thương tiền ung thư này được gọi là tân sinh trong biểu mô âm hộ (VIN). Các tổn thương này có thể phát triển thành ung thư âm hộ nên cần được điều trị sớm.

Cách điều trị ung thư âm hộ thường là phẫu thuật lấy đi khối bướu và một ít mô lành xung quanh. Đôi khi cần phải cắt âm hộ toàn bộ nếu phát hiện bệnh ở giai đoạn trễ, khối bướu lớn. Nếu được phát hiện sớm, việc điều trị sẽ đơn giản và hiệu quả hơn nhiều.

Ung thư âm hộ

Ung thư âm hộ

Những yếu tố nguy cơ

Lớn tuổi: nguy cơ mắc bệnh gia tăng với tuổi, mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Độ tuổi trung bình của bệnh nhân lúc được chẩn đoán là 65 tuổi.

Có tổn thương tân sinh trong biểu mô âm hộ (VIN): đây là những tổn thương tiền ung. Hầu hết phụ nữ có tổn thương này sẽ không phát triển thành ung thư, nhưng một số ít tiếp tục phát triển thành ung thư âm hộ xâm lấn. Vì thế nên điều trị để loại bỏ những vùng có tế bào bất thường và theo dõi định kỳ sau đó.

Nhiễm virút gây u nhú ở người (HPV): đây là virút lây lan qua đường tình dục và là yếu tố nguy cơ của một số bệnh ung thư như ung thư cổ tử cung và âm hộ. Thường gặp ở những người quan hệ tình dục sớm hoặc có nhiều bạn tình. Thường các trường hợp nhiễm virút HPV sẽ tự khỏi, tuy nhiên trong các trường hợp nhiễm kéo dài, virút có thể gây biến đổi tế bào, nếu không được điều trị có thể dẫn đến các thương tổn tiền ung thư và cuối cùng tiến triển đến ung thư.

Hút thuốc lá:

Tình trạng suy giảm miễn dịch: như ở các bệnh nhân ghép tạng cần dùng thuốc ức chế miễn dịch hay bệnh nhân nhiễm HIV.

Có các tổn thương ở da: như bệnh Lychen phẳng làm da mỏng và ngứa, cũng làm tăng nguy cơ ung thư âm hộ.

Triệu chứng

Ung thư âm hộ ở giai đoạn sớm thường không có triệu chứng lâm sàng. Nên đi khám nếu bạn có bất kỳ triệu chứng nào sau đây:

Bướu ở âm hộ.

Da âm hộ có biểu hiện bất thường như thay đổi màu sắc, có mụn cóc hay loét không lành.

Ngứa âm hộ kéo dài.

Xuất huyết âm đạo bất thường không liên quan chu kỳ kinh.

Cảm giác căng tức vùng âm hộ.

Phòng ngừa

Thực hành tình dục an toàn có thể làm giảm nguy cơ ung thư âm hộ. Nên sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục để bảo vệ chống lại các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Hạn chế số bạn tình để giảm nguy cơ nhiễm HPV.

Tiêm vắcxin phòng ngừa HPV có thể giúp ngăn ngừa các bệnh ung thư liên quan đến HPV như ung thư cổ tử cung, ung thư âm đạo, ung thư âm hộ.

Khám phụ khoa định kỳ có thể giúp chẩn đoán âm hộ và ung thư phụ khoa khác.

Chẩn đoán ung thư âm hộ.

Khám phụ khoa và soi âm hộ: khi khám phụ khoa, bác sĩ sẽ kiểm tra vùng âm hộ hoặc sử dụng kính soi để phát hiện các bất thường ở vùng này.

Sinh thiết: bác sĩ sẽ lấy một phần mô bướu hay viết loét ở âm hộ để khảo sát dưới kính hiển vi để xem có hay không có tế bào ung thư.

Ung thư âm hộ Ung thư âm hộ

Điều trị

Việc điều trị ung thư âm hộ tùy thuộc vào loại mô bướu, giai đoạn bệnh, sức khỏe và mong muốn của bệnh nhân

Đối với những tổn thương tiền ung thư có thể phẫu thuật cắt bỏ vùng da bất thường hay bôi Kem Imiquimod 5%.

Phẫu thuật:

Trong giai đoạn sớm, khối u còn nhỏ thì chỉ cần cắt bỏ u và một ít mô lành xung quanh. Khi bướu to hơn hoặc giai đoạn trễ, bướu có xâm lấn ra ngoài âm hộ và di căn đến hạch bẹn 2 bên thì cần thiết phải cắt âm hộ và nạo vét hạch bẹn.

Xạ trị:

Là phương pháp sử dụng các tia năng lượng cao như tia X, để tiêu diệt tế bào ung thư. Xạ trị thường được dùng để thu nhỏ bướu trước khi mổ, hoặc dùng để tiêu diệt những tế bào ung thư còn sót lại sau khi mổ.

Hóa trị:

Hóa trị là điều trị bằng hóa chất để tiêu diệt tế bào ung thư. Đối với những trường hợp giai đoạn trễ, bệnh đã lan rộng đến các khu vực khác của cơ thể, hóa trị có thể là một lựa chọn. Đôi khi hóa trị được kết hợp với xạ trị để thu nhỏ bướu âm hộ lớn, giúp phẫu thuật dễ dàng hơn.

Theo dõi sau điều trị:

Sau khi hoàn tất điều trị, nên định kỳ theo dõi để phát hiện sớm ung thư tái phát. Ngay cả sau khi điều trị thành công, ung thư âm hộ vẫn có thể trở lại. Bác sĩ sẽ xác định lịch trình theo dõi phù hợp, thường là tái khám mỗi 3 tháng một lần trong 2 năm đầu tiên, sau đó là mỗi 6 tháng một lần trong 3 năm tiếp theo.

Hiện nay tại BV. Ung Bướu TP.HCM có đầy đủ các phương tiện để chẩn đoán sớm và điều trị ung thư âm hộ như phẫu trị, xạ trị, hóa trị. Đặc biệt, khoa Ngoại 1 có nhiều kinh nghiệm trong việc thực hiện các phương pháp phẫu thuật như cắt âm hộ, nạo vét hạch bẹn 2 bên, tạo hình âm hộ sau khi cắt…

Lời khuyên của thầy thuốcUng thư âm hộ là căn bệnh thầm lặng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người phụ nữ. Vì vậy, để đẩy lùi căn bệnh này, chị em phụ nữ cần đi khám phụ khoa định kỳ, chú ý những thay đổi tại vùng này và khám ngay khi có các triệu chứng báo động. Trong quá trình điều trị, chị em nên kết hợp cùng các bác sĩ chuyên khoa và thực hiện đúng phác đồ điều trị.

BS.CKI. LƯƠNG CHẤN LẬP

Tầm soát ung thư buồng trứng

(Lê Tuyết Thu - Tiền Giang)

Tỉ lệ sống còn của ung thư buồng trứng (UTBT) liên quan đến giai đoạn chẩn đoán, tỉ lệ sống 5 năm ở người phát hiện bệnh ở giai đoạn I là trên 90% và giảm còn 75 - 80% nếu tổn thương còn trong vùng, đối với di căn xa thì tỉ lệ này là 25%. Mặc dù tiên lượng tốt liên quan giai đoạn sớm của bệnh nhưng tỉ lệ sống 5 năm của toàn bộ bệnh nhân UTBT dưới 45%. Tỉ lệ tử vong do UTBT giảm rất ít trong hơn 30 năm qua. Thật ra thì người ta ít hiểu biết về cơ chế cũng như thời gian tiến triển của UTBT tại chỗ đến giai đoạn xâm lấn ra khỏi vùng. UTBT có thể khởi phát từ nhiều vùng trong ổ bụng vì yếu tố sinh ung thư vẫn phát triển sau khi cắt bỏ buồng trứng bình thường. 90% UTBT là ung thư thượng mô, phần còn lại là từ tế bào mầm hoặc mô khác. Một phân nhóm của ung thư thượng mô được biết là khối u giới hạn (borderline tumors).

Trên những nhóm phụ nữ có nguy cơ cao, người ta sẽ tiến hành các xét nghiệm để chọn lọc ra những người bị nghi ngờ là mắc UTBT giai đoạn sớm để chẩn đoán xác định. Dĩ nhiên gọi là xét nghiệm tầm soát tức thực hiện trên nhóm phụ nữ có nguy cơ cao mà không hề có triệu chứng nào của bệnh, nếu người phụ nữ có những triệu chứng của bệnh UTBT thì không thể gọi là tầm soát bệnh được.

Siêu âm ổ bụng: phụ nữ cần phải được siêu âm định kỳ vùng chậu để phát hiện những bất thường của cơ quan sinh dục (nhất là buồng trứng). Hình ảnh bất thuờng của buồng trứng kết hợp với chất đánh dấu ung thư trong máu cho giá trị chẩn đoán cao. Phết cổ tử cung (PAPs mear): cũng có giá trị phát hiện 10 - 30% các trường hợp UTBT. Chất CA 125 trong máu: đây là một chất đánh dấu ung thư, nó tăng nồng độ trong máu có liên quan đến UTBT. Tuy nhiên trong những ung thư khác như đại tràng, tiền liệt tuyến, phổi thì nó cũng tồn tại. Lysophosphatidic acid – lipid lysophosphatidic acid (LPA) trong máu có liên quan đến UTBT. LPA tăng ở 96% các bệnh nhân bị UTBT và hiện diện ở 90% khi bệnh ở giai đoạn I.

BS.CKII. ĐẶNG MINH TRÍ

Thay đổi bình thường và bất thường khi mang thai

Mang thai và sinh đẻ là thiên chức của người phụ nữ, tuy nhiên, chị em luôn có những băn khoăn: Cơ thể thay đổi như thế nào khi mang thai? Những thay đổi nào là bình thường hay bất thường? Bà mẹ cần tăng cân thế nào là tốt? Sau đây là những thay đổi khi mang thai bạn nên biết để quá trình mang thai và sinh nở được mẹ khỏe con khỏe.

Những thay đổi ở 3 tháng đầu

Từ tuần 0-14, bao gồm các giai đoạn trước của phôi thai cho đến thời điểm trước 14 tuần. Ban đầu, nhiều bà bầu thậm chí không cảm thấy có sự thay đổi gì so với thời điểm chưa mang thai, nhưng hầu hết bắt đầu tác động trên vú, thấy tăng sự phát triển vú có thể gây ra đau vú tạm thời. Và mọi người đều có cảm giác buồn nôn và nôn, mệt mỏi (gọi nghén) và tăng cân cũng rất phổ biến. Mặc dù trong 3 tháng đầu thai kỳ do bị nghén có nhiều bà mẹ ít tăng cân hoặc không tăng cân nhưng nhìn chung vẫn tăng được khoảng từ 1- 2kg. Còn thai nhi phải trải qua giai đoạn tăng trưởng phức tạp và quan trọng nhất trong thời gian 3 tháng đầu. Trứng thụ tinh phân chia nhiều lần và kết quả là từ 1 tế bào hợp tử phát triển và tổ chức thành phôi thai và nhau thai. Thời điểm thai tuần 12, tất cả các cấu trúc bên ngoài và cơ quan nội tạng đã được hình thành, thai nhi bắt đầu di chuyển tự do trong túi ối.

Thời điểm dễ chịu nhất của thai kỳ

Từ tuần 13-26 thường là thời điểm tốt nhất của mang thai. Trong thời gian này người mẹ đầu tiên nhận thấy sự chuyển động của thai nhi, nói chung là trong khoảng thời gian giữa 16-20 tuần. Trong suốt thời kỳ phôi thai và sau này, thai nhi đã có những cử động, tuy nhiên các cử động là tương đối yếu, vì vậy, các cử động của thai nhi đập vào thành tử cung với lực không đủ để thông báo cho mẹ trong thời điểm thai nhi còn nhỏ. Các hệ cơ quan và cơ quan quan trọng của thai nhi tiếp tục phát triển trong suốt thai 3 tháng giữa. Sự phát triển của cơ quan sinh dục bên ngoài được hoàn thành và giới tính của em bé thường có thể quan sát rõ ràng được. Ở bé gái, buồng trứng của thai nhi phát triển đáng kể. Đáng chú ý, tất cả các trứng của buồng trứng được hình thành đầy đủ ở tháng thứ năm của thai kỳ! Sau khi thành lập, trứng ở vào trạng thái nghỉ ngơi, trong đó chúng sẽ vẫn còn cho đến tuổi dậy thì. Trong 3 tháng giữa này bà mẹ tăng khoảng 4-5kg.

Thay đổi bình thường và bất thường khi mang thaiPhụ nữ mang thai cần tiêm phòng các bệnh cúm, uốn ván, Rubella, viêm gan virut...

...Và giai đoạn nhiều khó chịu nhất, cần đi khám nhiều nhất

Từ tuần 27-40 tuần, thai kỳ mang đến nhiều khó chịu nhất cho thai phụ với các triệu chứng có thể gặp như: nóng rát thượng vị, táo bón, trĩ, giãn tĩnh mạch chi dưới, mất ngủ và nặng tức bụng dưới. Nguyên nhân của hầu hết các triệu chứng khó chịu này do thai nhi lớn nhanh trong bụng mẹ. Cùng với đó thai nhi cử động trong bụng mẹ, các bà mẹ luôn cảm thấy em bé như đang chơi đùa trong bụng mình. Bạn nên đi khám bác sĩ thường xuyên hơn trong thời gian này (tuần/lần). Thăm khám thường xuyên sẽ giúp bác sĩ theo dõi tình trạng sức khỏe của bạn và thai nhi kỹ lưỡng hơn để phát hiện các bất thường bệnh lý như: tiền sản giật, dọa sinh non, đái tháo đường thai kỳ, đa ối hay thiểu ối... Càng gần cuối thai kỳ càng tăng cảm giác hồi hộp và lo lắng có thể mất ngủ... Bạn có thể phát hiện thấy dạ con có các cơn co - chúng là các cơn co sinh lý, không đáng ngại khác với các cơn co chuyển dạ: thứ nhất, là cơn co yếu với thời gian co ngắn không gây đau bụng, thứ hai là các cơn co này không tăng thêm về tần số và cường độ và chúng sẽ biến mất. Các cơn co sinh lý này được coi như sự chuẩn bị của tử cung cho quá trình chuyển dạ sắp tới. Phần lớn các em bé được sinh ra giữa 38 và 42 tuần. Trong thời gian này nếu bạn thấy cơn co tử cung mau hơn hoặc ra chất nhày hồng âm đạo thì đó là dấu hiệu chuyển dạ. Lúc đó, bạn có thể khăn gói vào viện để sinh bé.

Mức tăng cân cần thiết khi mang thai

Đối với thai phụ sự tăng cân của các bộ phận trong cơ thể như sau: Trẻ: 3.300g; bánh rau: 700g; nước ối: 900g; tuyến vú: 500g; trọng lượng tử cung: 900g; thể tích máu: 1.300g; mỡ cơ thể: 2.300g; mô và dịch cơ thể : 1.800g - 3.200g. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong ba tháng đầu của thai kỳ, người mẹ nên tăng 1-2kg, ba tháng giữa tăng 4-5kg, ba tháng cuối tăng 5-6kg. Tuy nhiên, tăng cân trong khi mang thai phụ thuộc vào tình trạng của người mẹ, không có thai kỳ nào giống thai kỳ nào, cũng không có người phụ nữ nào giống nhau hoàn toàn. Thai phụ có cân nặng trung bình trước khi mang thai thì nên tăng khoảng 12 - 15kg. Thai phụ gầy (ít cân) trước khi mang thai nên tăng 13 - 18kg. Trường hợp thai phụ thừa cân (béo) trước khi mang thai, nên tăng khoảng 8 - 12kg. Nếu thai phụ mang song thai thì nên tăng 18 - 21kg.

Lời khuyên của thầy thuốcĐể quá trình mang thai được khỏe mạnh, em bé sinh ra không bị dị tật thì trước khi mang thai chị em nên khám sức khỏe và tiêm phòng các bệnh như cúm, Rubela, viêm gan virut... (nếu chưa tiêm hoặc chưa mắc bao giờ). Khi đã mang thai cần có chế độ dinh dưỡng tốt, vệ sinh thân thể và vệ sinh tình dục tránh bệnh viêm nhiễm sinh dục. Tháng cuối cần chú ý không sinh hoạt tình dục để tránh vỡ ối sớm. Cuối cùng cần đi khám thai theo đúng định kỳ và ngay từ khi mang thai phải luôn được bác sĩ sản khoa khám, theo dõi thai định kỳ.

BS. Phạm Minh Nguyệt

Nhận biết sớm tăng huyết áp khi mang thai

Tăng huyết áp là một triệu chứng có thể có từ trước khi mang thai, xuất hiện trong khi mang thai hoặc đã có sẵn từ trước và nặng lên do thai nghén. Đối với người bình thường, tăng huyết áp là nguyên nhân của nhiều bệnh như: đái tháo đường, bệnh thận và các chứng tim mạch...

Đối với phụ nữ đang trong thời gian mang thai, tăng huyết áp dẫn đến hiện tượng tiền sản giật, ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi. Thai có thể bị chết lưu trong tử cung, bị ngạt thở và tử vong do thiếu máu cục bộ hoặc đẻ thiếu tháng... Chính vì thế, theo dõi huyết áp thường xuyên là việc làm thường xuyên và vô cùng quan trọng để phòng ngừa những biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe của mẹ và thai nhi.

Yếu tố nào gây ra chứng tăng huyết áp?

Tăng huyết áp hiện nay vẫn chưa tìm được nguyên nhân cụ thể, một số yếu tố thuận lợi dẫn đến tăng huyết áp như ăn nhiều muối, ít vận động thể lực, béo phì, tăng cholesterol, căng thẳng thần kinh, tâm lý...Bên cạnh đó, tuổi của sản phụ cao (trên 35 tuổi); dòng họ có người bị bệnh; chế độ dinh dưỡng lúc mang thai chưa tốt, kèm theo đó là chứng thiếu máu trầm trọng; chửa sinh đôi; thai phụ có nước ối quá nhiều; thời tiết thay đổi đột ngột, nóng lạnh thất thường... cũng là những nguyên nhân có thể gây tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai.

Ngoài ra, một số bệnh lý mắc phải có thể làm tăng huyết áp ở phụ nữ có thai như: bệnh về thận, tuyến thượng thận, tuyến giáp, bệnh tim mạch, tiểu đường...

Để an toàn cho cả mẹ và con, phụ nữ mang thai cần kiểm tra huyết áp thường xuyên.

Triệu chứng của chứng tăng huyết áp khi mang thai

Ngoài việc sử dụng máy đo huyết áp để biết chính xác huyết áp khi mang thai, thai phụ có thể chú ý quan sát sức khỏe của bản thân để nhận biết chứng tăng huyết áp thường xảy ra sau tuần thứ 20-24 của thai kỳ qua một số triệu chứng chính sau:

Phù là triệu chứng xuất hiện sớm nhất, phù toàn thân, nằm nghỉ không hết, phù mềm ấn lõm. Đặc biệt, thai phụ thấy tăng cân nhanh, dấu hiệu phù này không giống với phù sinh lý do thai chèn ép gây ứ trệ tuần hoàn (phù nhẹ ở chân, mắt cá, khi nằm nghỉ hoặc gác chân lên cao thì hết phù).

Tăng huyết áp khi có thai được coi là thai nghén có nguy cơ, nếu trước đó chưa biết có tăng huyết áp mà khi có thai, huyết áp tối đa > = 140mmHg hoặc huyết áp tối thiểu >= 90mmHg thì là tăng huyết áp, hoặc đã biết huyết áp trước đó mà huyết áp tối đa tăng >= 30mmHg hoặc huyết áp tối thiểu tăng > = 15 mmHg so với huyết áp trước khi mang thai thì được coi là tăng huyết áp (lưu ý: đo huyết áp 2 lần, mỗi lần cách nhau 4 giờ).

Đạm niệu: huyết áp tâm trương từ 90-110mmHg kèm theo đạm trong nước tiểu 0,3g/l thì được gọi là tiền sản giật nhẹ và nếu huyết áp tâm trương >= 110mmHg và lượng đạm trong nước tiểu 1g/l kèm theo các dấu hiệu nhức đầu, hoa mắt, đau vùng thượng vị thì được coi là tiền sản giật nặng và nếu không được điều trị kịp thời thì sẽ chuyển thành sản giật đe dọa tính mạng mẹ và con.

Dự phòng và điều trị

Phòng bệnh tăng huyết áp tốt nhất là theo dõi huyết áp trước và trong khi mang thai. Nếu phát hiện bị tăng huyết áp mạn tính trước khi mang thai cần được điều trị ổn định tùy theo căn nguyên gây bệnh. Khám thai định kỳ và đo huyết áp mỗi lần khám thai. Trong khi mang thai, nếu có tăng huyết áp đi kèm với đạm trong nước tiểu và phù thì phải nghĩ ngay đến tăng huyết áp do nhiễm độc thai nghén tạo nên một bệnh cảnh gọi là tiền sản giật (nếu như sản phụ lên cơn co giật và kết thúc bằng hôn mê).

Vì nhiễm độc thai nghén hiện nay vẫn chưa biết rõ nguyên nhân nên vấn đề dự phòng rất khó, chủ yếu là cần phát hiện sớm để điều trị kịp thời, làm xét nghiệm nước tiểu đầy đủ (tháng 1 lần). Sản phụ nếu bị nhiễm độc thai nghén nhẹ thì chỉ cần nghỉ ngơi, nằm nghiêng trái, uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ điều trị. Nếu có triệu chứng nhiễm độc thai nghén nặng thì cần phải được điều trị nội trú tại các cơ sở y tế chuyên khoa. Nhiều trường hợp điều trị nội khoa không kết quả phải mổ lấy thai sớm vì sức khỏe của mẹ và con.

BS. Lê Thị Hương

Triệu chứng nhiễm nấm Candida

Nguyễn Thị Hiên (nguyenhien@gmail.com)

Candida (Candida albicans) được biết đến là một loại nấm vô hại phát triển ở những chỗ ấm, ẩm ướt như miệng, ruột, âm đạo hoặc thậm chí trên bao quy đầu chưa cắt của nam giới. Đối với những người khỏe mạnh, nấm Candida thường xuất hiện khoảng 30% ở miệng, 39% ở âm đạo, 17% ở phế quản, 35% ở ruột... Bệnh nấm Candida có thể lây truyền theo nhiều đường khác nhau như quan hệ tình dục không an toàn với người mang bệnh qua âm đạo, hậu môn hay miệng. Bệnh có thể lây lan qua các công cụ dùng chung như khăn, quần lót, công cụ trợ dâm (sextoy) với người mang bệnh.

Triệu chứng nấm Candida ở miệng là đau họng, xuất hiện một lớp phủ màu trắng trên lưỡi, mụn nước, có vết loét hoặc hơi thở có mùi hôi; ở đường tiêu hóa: có thể dị ứng thực phẩm, đau bụng, viêm loét dạ dày, ợ nóng, ngứa hậu môn; nấm Candida trong đường tiết niệu: có thể nhiễm khuẩn bàng quang, đi tiểu đau và nóng rát, nhiễm khuẩn thận và niệu đạo. Nên nhớ là nhiễm nấm âm đạo là bệnh phụ khoa thường gặp và hay tái phát mặc dù không nguy hiểm tính mạng nhưng bệnh gây nhiều phiền phức, thậm chí ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Như trên đã nói, ở miệng cũng có loại nấm này nếu bạn quan hệ đường miệng sẽ là nguyên nhân lây nhiễm nấm từ âm đạo lên miệng và ngược lại. Nếu bạn đã bị nhiễm nấm âm đạo thì việc lây qua đường miệng là không tránh khỏi, vì vậy nên dùng bao cao su khi quan hệ tình dục là tốt nhất.

BS. Kim Oanh

Ung thư cổ tử cung

Có 5 loại ung thư phụ khoa chính, gồm: cổ tử cung, buồng trứng, tử cung, âm đạo và âm hộ - theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ CDC. Cổ tử cung là bệnh dễ ngăn ngừa nhất qua xét nghiệm sàng lọc thường xuyên và theo dõi. Ngoài ra, đây là loại ung thư chữa được khi phát hiện và điều trị sớm.

Phụ nữ có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung ở tuổi trung niên, độ tuổi từ 35 - 55. Theo CDC, bệnh ung thư cổ tử cung ít ảnh hưởng đến phụ nữ dưới tuổi 20.

HPV là nguyên nhân gây ra 99% các ca ung thư cổ tử cung, theo ông Fred Wyand - Giám đốc truyền thông của Hiệp hội Sức khỏe tình dục Mỹ.

Phụ nữ có nguy cơ cao nhiễm virut HPV trong quá trình quan hệ tình dục nếu họ bắt đầu có quan hệ tình dục ở độ tuổi sớm hoặc có quan hệ tình dục với nhiều người. Theo báo cáo của CDC, ít nhất một nửa số phụ nữ sinh hoạt tình dục sẽ bị nhiễm HPV tại một số điểm trong đời, vài phụ nữ sẽ bị ung thư cổ tử cung.

Hơn 70% ca mắc ung thư cổ tử cung là do 2 chủng có nguy cơ cao HPV-16 và HPV-18. Ngoài HPV, theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, tình trạng hút thuốc, độ tuổi có thai lần đầu, tiền sử gia đình, chế độ ăn uống và thuốc tránh thai là yếu tố nguy cơ có thể mắc ung thư cổ tử cung, trong khi các nghiên cứu khác cho thấy nhiễm Chlamydia không được điều trị và nhiễm HPV kéo dài cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung.

Các triệu chứng sớm của ung thư cổ tử cung bao gồm chảy máu bất thường hoặc bất thường âm đạo, đau khi quan hệ tình dục hoặc đau không liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt, tiết dịch âm đạo, tăng tần số tiết niệu hoặc đau khi đi tiểu. Nếu có những bất thường này, nên sớm làm xét nghiệm ung thư cổ tử cung. Phụ nữ từ 21-65 tuổi nên xét nghiệm mỗi năm 1 lần, theo Cơ quan phòng bệnh Mỹ.

Một nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống giàu chất xơ, vitamin A, C, E, nhiều trái cây và rau quả giúp giảm từ 40-60% nguy cơ ung thư cổ tử cung.

DS. Dương Tuyết

((Theo Medical Daily, 2016))